Đặc điểm hình thái và mối tương quan giữa lâm sàng với các chỉ số cận lâm sàng trong đánh giá trũng mi trên mức độ II ở phụ nữ trung niên người Việt
Abstract
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái và đánh giá mối tương quan giữa các chỉ số cận lâm sàng với độ sâu trũng mi trên mức độ II ở phụ nữ trung niên người Việt. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 81 mắt của 41 phụ nữ Việt Nam, từ 40 - 65 tuổi, trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Đặc điểm hình thái được đánh giá qua thăm khám lâm sàng. Diện tích vùng trũng được đo trên ảnh 2D bằng phần mềm ImageJ; thể tích thiếu hụt được xác định trên hình ảnh 3D bằng hệ thống Vectra XT; các chỉ số D1 và D2 được đo bằng siêu âm. Kết quả: Độ sâu trũng là 5,93 ± 0,83mm và chiều cao da trước sụn mi trên là 7,80 ± 2,03mm. Có 75,3% số mắt có chiều cao da trước sụn m ≥ 7mm và 81,5% có tỷ lệ m/N ≥ 1. Hình thái trũng mi trên typ II gặp nhiều nhất, chiếm 40,7%. Có 90,1% số mắt có từ hai nếp mí trở lên; 73,2% người bệnh có nếp mí hai bên không cân đối và 54,3% số mắt có thừa da mi trên mức độ nhẹ. Diện tích vùng trũng là 224,83 ± 66,37mm² và thể tích thiếu hụt là 0,948 ± 0,219mL. Trên siêu âm, giá trị D1 là 0,24 ± 0,09cm và D2 là 0,29 ± 0,10cm. Diện tích vùng trũng, thể tích thiếu hụt và D1 có tương quan thuận với độ sâu trũng, trong khi D2 có tương quan nghịch với độ sâu trũng (p<0,05). Kết luận: Trũng mi trên mức độ II ở phụ nữ Việt Nam trung niên thường có hình thái typ II, tăng chiều cao da trước sụn, nhiều nếp mí, bất cân xứng nếp mí hai bên và thừa da mi trên. Các chỉ số đo trên ảnh 2D, hình ảnh 3D và siêu âm có mối tương quan với độ sâu trũng, góp phần lượng hóa mức độ thiếu hụt thể tích và những biến đổi mô mềm của mi trên.